Một số suy nghĩ về dạy chữ, dạy người, dạy nghề trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam

Một số suy nghĩ về dạy chữ, dạy người, dạy nghề trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam

Một số suy nghĩ về dạy chữ, dạy người, dạy nghề trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam

Một số suy nghĩ về dạy chữ, dạy người, dạy nghề trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam

Một số suy nghĩ về dạy chữ, dạy người, dạy nghề trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam
Một số suy nghĩ về dạy chữ, dạy người, dạy nghề trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam
Thứ bảy, Ngày 21 Tháng 09 Năm 2019
"Nhà trường kỷ cương, Nhà giáo mẫu mực, Học viên tích cực"

Gương sáng đoàn viên

LIÊN KẾT WEBSITE

Nhà giáo công an

Một số suy nghĩ về dạy chữ, dạy người, dạy nghề trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam

11-06-2018 05:12:08 PM - Lượt xem: 456
Để Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh, văn minh trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, một vấn đề cấp bách đặt ra phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà. Theo xu hướng phát triển và hội nhập của thời đại, nền giáo dục Việt Nam tất yếu phải đổi mới.

Để Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh, văn minh trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, một vấn đề cấp bách đặt ra phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà. Theo xu hướng phát triển và hội nhập của thời đại, nền giáo dục Việt Nam tất yếu phải đổi mới. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây, phải đổi mới như thế nào? Theo Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mục tiêu tổng quát mà nền giáo dục Việt Nam hướng tới đó là:

Thứ nhất: Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả giáo dục; khắc phục căn bản các yếu kém kéo dài đang gây bức xúc trong xã hội, để giáo dục và đào tạo trở thành một nhân tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên toàn thế giới.

             Học viên nhà trường tập luyện Điều lệnh CAND

Thứ hai: Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu Tổ quốc; có hiểu biết và kỹ năng cơ bản, khả năng sáng tạo để làm chủ bản thân, sống tốt và làm việc hiệu quả - thực học, thực nghiệp; phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân; đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước;

Thứ ba: Xây dựng nền giáo dục mở, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng. Hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm đà bản sắc dân tộc.

 Muốn đạt được mục tiêu trên, vấn đề “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” cần phải được quan tâm hàng đầu. Bởi lẽ theo suy nghĩ của tác giả “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của công cuộc đổi mới hệ thống giáo dục ở Việt Nam.

Dạy chữ là trang bị kiến thức. Còn khái niệm dạy người phải hiểu rộng hơn, không nên chỉ giới hạn trong phạm vi giáo dục đạo đức, lối sống mà còn bao hàm cả trang bị kỹ năng sống, hiểu biết về khoa học xã hội, từ đó hình thành, rèn luyện và phát triển nhân cách cho người học. Hiện tại, chúng ta đang thiên về dạy chữ mà chưa quan tâm đúng mức tới dạy người, hay nói cách khác là chưa cân đối giữa hai mục tiêu này.

Việc “dạy chữ” ở nước ta trong thời gian qua, các trường phổ thông tập trung nhiều cho dạy chữ, kết quả dạy chữ đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. Nhưng không phải nơi nào, nhà trường nào cũng như vậy, thực tế đã chỉ ra có nơi có lúc xảy ra điều ngược lại:

Về quốc văn, nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp phổ phông viết chính tả sai sót quá nhiều, năng lực viết và diễn đạt một số văn tự thông thường trong giao dịch như thư từ, đơn thư, văn bản hành chánh…thiếu rõ ràng, trong sáng. Gần đây nhiều học sinh phổ thông sử dụng văn tự chat, email, online với những câu chữ, từ vựng rối rắm làm ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt, chữ Việt. Có nơi điều đó đang lan tỏa vào trong lớp học, bài viết của học sinh.

Về quốc ngữ, tuy chưa có thống kê cụ thể nhưng số lượng học sinh phổ thông nói ngọng tiếng mẹ đẻ rất nhiều, dù khác nhau nhưng ở đâu cũng có, vùng miền nào cũng có. Một số Sở Giáo dục – Đào tạo đã có đề án chấn chỉnh. Sự trầm trọng của vấn đề này ở chỗ số học sinh nói ngọng ngày thêm nhiều, loại từ ngữ bị ngọng cũng gia tăng, nhiều giáo viên ra trường được tuyển dụng gần đây có nhiều người nói ngọng, thậm chí cán bộ Sở được tuyển dụng mới cũng nói ngọng. Đó là hậu quả của “ Ngọng học đường”.

Về quốc sử, có quá nhiều học sinh phổ thông ngán học sử, không thích học sử. Những lần thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh Đại học, Cao đẳng trong những năm vừa qua, phát hiện những bài thi môn Sử với nội dung làm bài ngô nghê, lệch lạc, điểm quá kém. Có những năm Bộ Giáo dục – Đào tạo cho môn lịch sử là một trong các môn tự chọn thi tốt nghiệp trung học phổ thông, nhiều trường tỉ lệ học sinh đăng khi quá thấp, thậm chí có trường học sinh không đăng ký chọn môn lịch sử. Nếu tình hình này kéo dài, việc bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người công dân yêu nước có bản lĩnh, có lòng tự hào về lịch sử dân tộc... sẽ như thế nào? Đó sẽ là điều khó khăn.

Các môn học tự nhiên thì “khô khan” thiếu tính ứng dụng nên người học ít hứng thú. Từ đó sự ham mê thích thú với môn học không có và dẫn đến việc người học không tự giác.

Việc “dạy chữ” ở nước ta hướng tới mục tiêu học để biết, nhưng vấn đề ở đây là biết để làm gì? Vì nội dung truyền đạt đa phần lỗi thời, lạc hậu không theo kịp xu hướng phát triển của xã hội.  

Bên cạnh một số nội dung đã làm được, chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông ở một số khâu còn thiếu tính khoa học, chưa bảo đảm tính liên thông, thống nhất, thích hợp một cách khoa học giữa các cấp học, môn học, còn coi nặng việc “dạy chữ” hơn là “dạy người”, mất cân đối giữa lý thuyết và thực hành, giữa dung lượng kiến thức, kỹ năng và thời lượng thực hiện của một số môn học. Khối lượng kiến thức trong chương trình, sách giáo khoa quá nhiều, dẫn đến sự “quá tải”. Nội dung chương trình chưa hướng tới mục đích chính là dạy người nên mặc dù nhà trường có quan tâm nhưng cách thực hiện, cách lựa chọn nội dung cũng như xác định thời lượng cần thiết dành cho nó đều chưa thỏa đáng. Thay vì truyền thụ kiến thức là chủ yếu, chúng ta phải hướng tới mục tiêu phát triển năng lực người học. Đó cũng là định hướng mà chương trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đang hướng tới.

Chương trình giáo dục phổ thông, môn giáo dục công dân là môn học để “dạy người” nhưng bị xem là môn phụ. Hiện nay, nhiều tỉnh, thành, trường học chỉ quan tâm đến thành tích học sinh giỏi, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp mà ít chú ý đến cải tiến chất lượng giảng dạy, giáo dục đạo đức, rèn luyện kỹ năng sống, ý thức trách nhiệm cho học sinh.

Đối với phụ huynh, đa phần chỉ chú trọng đến kết quả học tập, bồi dưỡng kiến thức chứ không để ý tới tâm sinh lý và rèn luyện lối sống cho con cái, bên cạnh đó cũng có không ít phụ huynh chỉ tạo các điều kiện về vật chất mà không quan tâm đến việc học tập của con, cá biệt có phụ huynh để việc học tập của con mình đạt kết quả cao còn “bồi dưỡng” cho giáo viên. Để nâng kết quả học tập, nhiều phụ huynh chỉ hỏi con môn học này, môn học kia được mấy điểm mà không quan tâm đến việc hỏi con học ở trường được gì? Hỏi thầy, cô được gì… Điều này phần nào lý giải cho hiện tượng, trong thời gian qua học sinh ngồi “nhầm” lớp rất nhiều, nhiều trẻ vị thành niên, sinh viên, thanh niên đã có những trình độ nhất định nhưng vẫn có hành vi trái với đạo đức truyền thống của dân tộc (như bóp cổ cô giáo, đánh lại cha, mẹ…), thậm chí có những học sinh, sinh viên vi phạm pháp luật, trở thành tội phạm.

Bên cạnh đó, để việc “dạy người” thực sự đạt hiệu quả cần phải củng cố thế chân kiềng giữa gia đình, nhà trường và xã hội.  Trong gia đình, nếu cha mẹ mải mê kiếm sống, lơ là quản lý, giáo dục con cái, không làm tấm gương tốt cho con cái noi theo; nhà trường chưa chú trọng đến “học lễ”, còn xã hội nhan nhản những chuyện xấu được phơi bày sẽ tác động rất lớn vào tâm lý của thanh thiếu niên. Tất cả sẽ ngấm dần và ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành động của giới trẻ. Vai trò của gia đình trong giáo dục đạo đức cho giới trẻ là rất quan trọng. Gia đình có uy quyền hơn và có khả năng tác động, quản lý trực tiếp đối với giới trẻ. Đặc biệt ở Việt Nam, ảnh hưởng cũng như vai trò quyết định của cha, mẹ thấy rõ trong từng bước đi của trẻ. Thực tế đó cũng đòi hỏi trách nhiệm ngày càng cao của các bậc phụ huynh trong quá trình nuôi dạy con cái. Bởi nhà trường, xã hội tuy đều cùng gánh vác trọng trách này, nhưng nếu con trẻ không thành người, gia đình chính là nơi trước tiên phải chịu đựng toàn bộ hậu quả. Nếu các bậc cha mẹ quan tâm hơn đến giáo dục đạo đức cho con em mình, sẽ góp phần tích cực cho việc hình thành nhân cách của các em. Nếu nhà trường, gia đình có sự gắn kết chặt chẽ, có sự phân công rạch ròi trong quản lý, giáo dục các em, chắc chắn chuyện đổ lỗi qua lại sẽ không còn.

Về việc “dạy nghề”, ông, bà, cha, mẹ ta dạy rằng: “ruộng bề bề không bằng nghề trong tay”, “một nghề cho chín còn hơn chín nghề”, “nhất nghệ tinh nhất thân vinh” cho chúng ta thấy tầm quan trọng của nghề. Thế nhưng theo số liệu thống kê, mỗi năm nước ta có khoảng 1,5 triệu người tham gia thị trường lao động, đa số là thanh niên, nhưng chỉ có khoảng 1/3 số này được đào tạo nghề. Cnước hiện có khoảng 500 trường cao đẳng, trung cấp nghề, gần 1.300 trung tâm dạy nghề nhưng hàng năm vẫn có hàng trăm người tốt nghiệp ra trường không chọn được nghề để lập thân, lập nghiệp. Có nhiều cách để lý giải, nhưng nguyên nhân chung nhất là dạy nghề chưa gắn sát với nhu cầu thực tiễn. Cũng giống như tốt nghiệp đại học, có rất nhiều người học ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, hay học ngắn hạn ở những trung tâm dạy nghề ra trường không tìm được việc làm. Bởi vì trình độ, năng lực chuyên môn không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Bên cạnh đó hiện nay có nơi, có lúc, có một số trường bị tác động bởi mặt trái cơ chế thị trường đã biến nhà trường thành thị trường, dẫn đến chỉ chú trọng đến “bát cơm” của mình mà coi nhẹ chất lượng đào tạo, các hiện tượng mua bằng, mua điểm, “học giả, bằng thật” ngày càng trở nên phổ biến, nếu thực trạng trên không được chấn chỉnh kịp thời sẽ trở thành quốc nạn của nước ta.

Những vấn đề đã nêu trên là thực trạng “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” ở nước ta trong thời gian qua. Trong thời gian tới để việc “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” phát huy vai trò nồng cốt trong công tác “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” theo tôi cần tiến hành một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Về “dạy chữ”, phải quán triệt nghiêm túc quan điểm “Đảm bảo sự trong sạch của Tiếng Việt” đừng để tiếng Việt bị mai mòn và lai căng. Mặt khác chúng ta không nên cầu toàn, triết lý giáo dục chúng ta đang hướng tới mục tiêu “tạo ra con người hoàn hảo” nhưng đang bất khả thi vì “nhân vô thập toàn”. Vì vậy, trong thời gian tới, chúng ta cần trang bị cho người học những kiến thức có giá trị thực tiễn, giá trị lịch sử và giá trị nhân văn làm như thế nào để người học thấy được kiến thức đó là bổ ích, thiết thực thì tự bản thân họ sẽ chủ động tiếp thu, có như vậy mới có thể đến gần mục tiêu biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo hay “sự học suốt đời”. Về khía cạnh gia đình, phụ huynh phải quan tâm con cái, thường xuyên trò chuyện với con, đừng quá chú trọng vào kết quả học tập mà phải xem kiến thức lĩnh hội được.

Thứ hai: Về “dạy người”, cần xác định được những giá trị cốt lõi của người Việt Nam trong thế kỷ 21 đó là con người vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa có những phẩm chất đặc trưng của con người Việt Nam, vừa có những phẩm chất của công dân quốc tế (trình độ văn hóa, chuyên môn nghề nghiệp cao, lối sống, tác phong công nghiệp, có khả năng hội nhập quốc tế...). Từ chuẩn mực đó, chúng ta xây dựng hệ thống quan điểm, định hướng cho việc tổ chức một nền giáo dục mở; đa dạng hóa loại hình trường lớp đảm bảo cho mọi công dân được học suốt đời; giao quyền chủ động cho các trường trong nhiệm vụ đào tạo, chịu trách nhiệm trước xã hội về chất lượng, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở định hướng chung của Nhà nước”.

Thứ ba: Về “dạy nghề” hiện tại chúng ta đang đào tạo nghề, theo hướng cái chúng ta có chứ không phải cái xã hội và doanh nghiệp cần. Chính vì vậy, có rất nhiều lao động đã qua đào tạo nhưng không kiếm được nghề phù hợp với chuyên môn. Để công tác “dạy nghề” trong thời gian tới đạt hiệu quả, cần phải làm tốt các công việc sau: Trước nhất, cần phải có nhận thức đúng đắn về chức năng, vị trí, vai trò của công tác dạy nghề nói riêng và giáo dục nghề nghiệp nói chung. Cần phải có những chủ trương, chính sách đủ sức hấp dẫn để người học hăng hái và yên tâm học nghề. Hiện nay, mức chi phí hỗ trợ người dân học nghề là quá thấp, cần phải tăng mức phí hỗ trợ đó lên. Một giải pháp quan trọng nữa là phải có chính sách cơ chế tăng cường sự kiểm tra, thanh tra, giám sát của các ban, ngành chức năng để tẩy rửa những tiêu cực trong giáo dục, đào tạo nhằm đảm bảo đúng yêu cầu, chất lượng đào tạo mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân mong muốn. Bên cạnh đó, cũng rất cần một công tác dự báo nhu cầu nghề trong tương lai, trong đó phải có chiến lược quy hoạch về nguồn nhân lực, làm sao đảm bảo cung ứng tốt nhất nguồn lao động cho các ngành, các khu vực kinh tế, địa phương. Trong công tác đào tạo nghề để tránh “thừa thầy thiếu thợ” cần chấm dứt tình trạng “tiến sĩ giấy” tránh việc chạy theo bằng cấp một cách xáo rỗng.

            Muốn đổi mới việc “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” ở nước ta đáp ứng yêu cầu tình hình mới một giải pháp căn cơ đó là phải đổi mới tư duy của những người làm công tác khoa học giáo dục, phải có chính sách thỏa đáng, phù hợp với họ, vì đây là những người định hướng, những người tổ chức hệ thống giáo dục của cả quốc gia

Lê Ngọc Nghĩa - Trưởng phòng XDLL

 

Các tin khác